Nước ngầm sẽ là nguồn nước ngọt cứu tinh cho loài người
Các nhà khoa học cho rằng lượng nước ngầm nhiều đến mức có thể tạo thành một lớp nước dày 180 mét bao phủ toàn bộ bề mặt Trái đất.
Nước ngầm là một nguồn nước ngọt vô cùng quan trọng. Hiện nay, khi lượng nước bề mặt như ao hồ sông suối phần lớn đã bị khô cạn hay ô nhiễm thì nước ngầm chính là vị cứu tinh mới cho loài người. Chỉ riêng ở Úc, trữ lượng nước ngầm đã khiến cho quốc gia này thu lời về hơn 34 tỷ đô mỗi năm từ hoạt động khai thác, hỗ trợ trong quá trình sản xuất thực phẩm và nước uống đóng chai. ![]() Nước ngầm có trữ lượng lớn nhưng khó khai thác Nhưng đây cũng là một nguồn tài nguyên dễ bị tổn hại. Mật độ tâp trung dân cư đông đúc ở một số nơi đã gây áp lực lớn lên nguồn nước ngầm. 60% hiện tượng này chủ yếu diễn ra ở Ấn Độ và Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu ở Mỹ và Canada mới đây đã tính toán về tổng lượng nước ngầm của thế giới và ước tính rằng nó tương đương với một hồ nước sâu 180 mét bao phủ toàn bộ Trái đất. Điều này đã chứng minh được nước ngầm chính là nguồn tài nguyên nước ngọt lớn nhất trên hành tinh. Tuy nhiên, nước ngầm thường được xem là một nguồn lực tiềm ẩn vì chúng rất khó để tìm thấy và xác định đúng trữ lượng. Nước ngầm chủ yếu được giữ lại giữa các lỗ trong đá hay những vết nứt. Những cấu trúc như thế này được gọi là các tầng chứa nước. Vì thế, lượng nước ngầm tại một địa điểm cụ thể phụ thuộc vào lịch sử hoạt động địa chất tại nơi đó. Hoạt động địa chất sẽ quyết định tính xốp hoặc gãy nứt của đất đá, từ đó thể hiện mức độ dự trữ nước ngầm. Bên cạnh việc điều tra về trữ lượng của nước ngầm, nhóm nghiên cứu cũng tính toán về độ tuổi của nguồn nước. Khi con người bắt đầu thử nghiệm vũ khí hạt nhân, chúng ta đã vô tình tạo ra một loại dấn ấn thời gian trên phần lớn bề mặt Trái đất. Loại dấu ấn này chính là vết phóng xạ có thể được tìm thấy trong nước, đá và các sinh vật sống. Nếu tìm thấy dấu vết phóng xạ từ hoạt động thử bom nguyên tử trong nước ngầm, các nhà nghiên cứu có thể ước tính được 6% lượng nước này có độ tuổi nhỏ hơn 50 năm. Nếu lượng nước ngầm trải đều trên các châu lục và có độ dày 180 mét như đã nói ở phần trên thì phần nước ngầm có niên đại trẻ tuổi sẽ chỉ tương đương với một lớp dày khoảng 3 mét nằm trên cùng. Một số nhà khoa học cho rằng nếu chúng ta chỉ sử dụng lượng nước ngầm có niên đại trẻ tuổi này thì đây sẽ là một phương pháp khai thác nước ngọt bền vững. Vì các tầng nước dưới sẽ tái tạo lại một cách tự nhiên tầng nước ngọt có niên đại trẻ tuổi trên cùng trong quá trình kéo dài 50 năm. Để tạo thành nước ngầm, nước phải được lọc qua các lỗ li ti trên đá hoặc các vết nứt. Điều này có nghĩa rằng nếu muốn tạo thành nước ngầm thì lượng mưa phải nhiều hơn lượng nước bốc hơi từ bề mặt đất, và nhiều hơn lượng nước được hấp thụ bởi thảm thực vật. Khi điều này xảy ra, nước ngọt có thể tái tuần hoàn thành nước ngầm thông qua phần đáy của những con sông hoặc từ nước mưa thấm qua đất đá. Ở nhiều nơi trên thế giới, quá trình tái tạo nước ngầm thay đổi rất khác nhau do hoạt động biến đổi khí hậu tự nhiên như El Nino. Và chính vì thế, hiện tượng nóng lên toàn cầu cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tái tạo nước ngầm. Một nghiên cứu khác gần đây đã cho thấy rằng lượng nước ngầm nói riêng và tổng lượng nước trên Trái đất đã có những thay đổi lớn. Các nhà khoa học thực hiện quá trình nghiên cứu bằng cách đo đạc những biến đổi trong trường hấp dẫn của trái đất dựa trên sử dụng dữ liệu vệ tinh GRACE của NASA thu thập từ năm 2002 đến năm 2014. Các trường hấp dẫn bị ảnh hưởng bởi lượng nước ngầm, cũng như nước ở sông, hồ. Những thay đổi trong lượng nước này gây ra những thay đổi nhỏ nhưng có thể đo đạc được trong trường hấp dẫn của Trái đất. Các dữ liệu cho thấy nước ngọt có xu hướng chuyển đổi từ những vùng bề mặt như nước ao hồ sông suối đến những vùng nằm sâu hơn trong đất, tức nước ngầm. Sự gia tăng trong lượng nước được giữ lại trong lòng đất cũng là yếu tố ảnh hưởng đến mực nước biển toàn cầu. Vì vậy, mặc dù mực nước biển toàn cầu tuy tăng lên trong những năm qua do hiệu ứng nhà kính, nhưng tốc độ tăng không nhanh là vì một phần lớn nước đã được chuyển sang nguồn nước ngầm. Các dữ liệu trọng lực có thể chỉ cho chúng ta thấy nơi trữ lượng nước ngầm đang tăng lên, ví dụ như Missouri tại Mỹ hoặc các lưu vực sông Zambezi và Niger ở châu Phi. Bên cạnh đó, cũng có một số nơi mà trữ lượng nước ngầm lại suy giảm nhanh chóng như vùng California và Trung Đông. Các dữ liệu trọng lực cũng giúp xác định được những vùng mà nước ngầm bị tác động bởi biến đổi khí hậu và quá trình sử dụng thái quá của con người. Tuy vai trò của nước ngầm đang trở nên vô cùng quan trọng, nhưng các nhà khoa học hiện nay đang lo lắng về mặt trái của hoạt động khai thác nước ngầm. Họ cho rằng khi khai thác nước ngầm, chúng ta sẽ vô tình đưa các chất carbon hữu cơ nằm sâu trong đất đá lên bề mặt. Từ đó chúng có thể đi vào tự nhiên và làm trầm trọng hơn nữa quá trình ấm lên toàn cầu. Phan Thanh (Sciencealert) Nguồn http://khampha.vn/ |


























Social Links: